Tin hợp tác quốc tế

JOHANN SEBASTIAN BACH

22 Tháng Tư 2008

TSKH. Phạm Lê Hoà


 

 

            Trong lịch sử âm nhạc thế giới, thế kỷ XVII – XVIII là mốc đánh dấu hai con đường sáng tạo nghệ thuật được tạo dựng bởi hai nhạc sĩ bậc thầy của nhiều thời đại: Johann Sebastian BachGeorge Frideric Handel. Trên cơ sở những thành tựu của các thế kỷ trước, hai người nhạc sĩ này đã không chỉ hoàn thiện một trang rực rỡ của lịch sử âm nhạc thế giới, mà còn mở ra/bắt đầu những trang sử mới của lịch sử âm nhạc cho đến hôm nay và mai sau. Di sản âm nhạc vô cùng quí báu của hai nhà soạn nhạc vĩ đại này cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, là tinh hoa nghệ thuật cho các thế hệ nhạc sĩ sau đó tiếp cận/học hỏi và tiếp tục sáng tạo. Tuy Johann Sebastian BachGeorge Frideric Handel cùng sống chung một thời đại, nhưng có một điểm khác là nếu như Handel phần lớn cuộc đời sống ở nước ngoài thì Bach lại cả cuộc đời không ra khỏi nước Đức.

 

Johann Sebastian Bach(1685-1750)

 

            Johann Sebastian Bach không chỉ là nghệ sĩ đàn organ, nhà soạn nhạc Đức vĩ đại, ông còn là nhà lý luận âm nhạc, nhà sư phạm âm nhạc, một trong những thiên tài vĩ đại nhất trong lịch sử âm nhạc Phương Tây nhiều thế kỷ qua. Ông sinh ngày 21 tháng 3 năm 1685 tại Eisenach, Thuringia, trong một gia đình mà 7 thế hệ đã sản sinh ra hơn 53 nhạc sĩ xuất chúng cho nền âm nhạc thế giới, từ Veit Bach tới Wilhelm Friederich Ernst Bach.

 

 Johann Ambrosius Bach (1645-1695)

 

            Johann Sebastian Bach từ nhỏ đã được học những bài học âm nhạc đầu tiên từ người cha đẻ - Johann Ambrosius là một nhạc sĩ tỉnh lẻ. Sau khi người cha mất, Bach tới sống và học cùng với người anh trai - Johann Christoph, một nhạc công đàn organOhrdruf.       

            Năm 1696 ông theo học ở trường Lisci Ohrdrup và tiếp tục học âm nhạc. Ngay từ nhỏ, như nhiều thành viên của dòng họ Bach danh tiếng, Johann Sebastian Bach có năng khiếu và lòng say mê âm nhạc một cách đặc biệt. Những bài học âm nhạc luôn mang đến cho cậu niềm vui và sự khám phá trong thế giới của những âm thanh. Cậu bé J.S. Bach luôn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học tập/để có thể làm giàu tri thức âm nhạc của mình. Kiến thức âm nhạc vốn là vô cùng rộng lớn đối với ngay cả những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của mọi thời đại, do đó càng là vô cùng vĩ đại với chàng thanh niên mới bước đầu khám phá thế giới kỳ diệu của các âm thanh. Càng học cậu càng khám phá một cách đầy hưng phấn những qui luật, những sáng tạo đầy bất ngờ của sự hoà hợp các âm thanh trong một tác phẩm âm nhạc. Nhờ có năng khiếu âm nhạc cộng với lòng đam mê, ngay từ khi còn nhỏ tuổi, cậu đã có thể nắm vững được các khái niệm cơ bản của tri thức nghệ thuật âm nhạc phức điệu thời bấy giờ như: đối vị, canon, mô tiến với đỉnh cao sau này là prelude và fuga .v.v..

            Ngoài việc tham gia hát trong đội đồng ca của nhà thờ, theo truyền thống gia đình, Johann Sebastian Bach còn được học sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác. Vì vậy, sau này Bach có thể chơi được nhiều loại nhạc cụ khác nhau như: organ, clavecin, violon, alto. Tuy nhiên, cậu yêu đàn organ hơn cả. Ngồi trước đàn organ cậu cảm thấy như đang đứng trước một dàn nhạc lớn với những âm hưởng hùng tráng và tiềm ẩn một sức mạnh phi thường. Bach cũng luôn chú ý học tập tác phẩm âm nhạc của các nhạc sĩ đã nổi tiếng. Nhờ đó mà khi 15 tuổi cậu đã có một số tác phẩm âm nhạc đầu tiên của mình, trong đó có cả những tác phẩm viết cho đàn organ diễn tấu.

            Từ năm 1700 đến tháng 4 năm 1703, Johann Sebastian Bach vừa học ở trường phổ thông vừa bắt đầu tự kiếm sống bằng nghề hát trong đội hợp xướng Nhà thờ Saint Michael tại Luneburg. Nơi đây cậu có thể thường xuyên nghe nghệ sĩ đàn organ tài năng Georg Biem biểu diễn và được phép sử dụng các sách nhạc có trong thư viện của nhà trường. Hơn thế nữa, khi đến Hamburg ông còn được viếng thăm nhà hát Opera và làm quen với nghệ thuật biểu diễn đàn organ của nghệ sĩ nổi tiếng Ian Adam Reinken.

            Năm 1703, Bach trở thành nghệ sĩ violon trong dàn nhạc thính phòng của Hoàng tử Johann Ernst xứ Weimar, rồi cũng cùng năm đó ông chuyển tới Arstadt, tại đây ông đã trở thành nhạc công đàn organ và chỉ huy hợp xướng của nhà thờ. Tháng 10 năm 1705, ông xin phép vắng mặt một tháng để đến học nghệ sĩ organ và nhà soạn nhạc Đức gốc Đan Mạch danh tiếng Dietrich Buxtehude, người mà sau này ở Lubeck âm nhạc organ của ông có ảnh hưởng lớn đến âm nhạc của Bach. Tại đây, Bach đã tham gia biểu diễn đàn organ và được chính Buxtehude đánh giá cao. Và cũng chính ông đã nhận giúp đỡ, nhận truyền dạy cho Bach những kỹ xảo của nghệ thuật biểu diễn đàn organ. Những bài học này đã giúp Bach mau chóng khẳng định tài năng của mình và theo ông trong suốt cuộc đời. Buxtehude cũng giúp Bach tiếp cận với các tác phẩm âm nhạc thuộc nhiều trường phái khác như Hà Lan, Đức, Italia. Sau đó Bach, như nhiều nhạc sĩ trước đó, đã nhiều lần sáng tác dựa theo các phong cách sáng tác mới này. Đây là một từ những phương pháp học sáng tác đã có từ nhiều trăm năm trước và được đã nhiều thế hệ nhạc sĩ sau này kế thừa một cách có hiệu quả. Cho đến hiện nay, phương pháp này vẫn còn được một số Nhạc viện trên thế giới áp dụng.

            Năng khiếu âm nhạc bẩm sinh, lòng đam mê nghệ thuật âm thanh cộng với sự đào luyện chân tình của D. Buxtehude đã đưa Bach nhanh chóng đến với đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn đàn organ thời bấy giờ. Nghệ thuật biểu diễn organ của Bach được mọi người thừa nhận và đã có lần ông được thay D. Buxtehude chơi đàn tại Nhà thờ.

            Chuyến đi học đạt kết quả cao đó đã làm ông say mê và ở quá thời hạn cho phép của Nhà thờ theo hợp đồng đến 2 tháng. Khi về ông bị các bề trên của Nhà thờ quở trách không những chỉ vì sự phá vỡ hợp đồng mà còn vì sự quá hoa mỹ và lối hoà âm không theo truyền thống trong khi đệm nhạc hát cho giáo đoàn. Dù rất kính trọng tài nghệ biểu diễn đàn organ của ông, nhưng do không có sự đồng cảm và không thể hiểu nổi những sáng tạo trong nghệ thuật của Bach nên Nhà thờ đã sa thải ông.

            Tháng 10 năm 1707, Johann Sebastian Bach cưới người chị họ là Maria Barbara rồi tới Mulhhausen làm nhạc công đàn organ trong nhà thờ Saint Blasius. Nhưng cuộc sống ở Malkhausen với đầy bất lợi đã đẩy ông và vợ phải đến Weimar với tư cách là một nghệ sĩ organviolon trong thủ phủ công tước Duke Wilhelm Ernst. Ông và gia đình lưu lại đó 9 năm. Thời gian ở Weimar ông đã viết được khoảng 30 bản cantata trong số đó có bản cantata dùng cho tang lễ God’s Time Is the Best (Thời của Chúa là tốt đẹp nhất). Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm cho đàn organ và đàn clavicô. Sau đó ông bắt đầu đi vòng quanh nước Đức với tư cách là một chuyên gia về đàn organ và cố vấn cho những người làm đàn organ.

            Leipzig, trong thời gian này Bach không được những người Đức đương thời đón nhận như với Handel, Telleman hay Hasse. Âm nhạc của ông quá nghiêm túc và phức tạp, chỉ có một số ít người có thể hiểu được và thích nghe loại nhạc này. Nhưng đây cũng chính là thời kỳ mà những tìm tòi trong lao động sáng tạo nghệ thuật của ông không chỉ được mở rộng về số lượng tác phẩm mà còn đi vào chiều sâu của tư duy sáng tạo. Trong chuyến đi này ông học hỏi được nhiều điều thú vị, được biết và làm quen với nhiều nhà soạn nhạc và biểu diễn đàn organ nổi tiếng thời bấy giờ như Handel, Telleman, MatesonCunao - những tên tuổi ông đã ngưỡng mộ từ lâu khi tự học bằng cách sao chép lại các tác phẩm của họ. Giữa một thời đại mà nhiều người cho rằng âm nhạc phức điệu đã lỗi thời bởi tính khô cứng, chặt chẽ, máy móc và nặng nề luôn làm người nghe mệt mỏi, thì Bach lại chính là người đã không ngừng bền bỉ khẳng định vẻ đẹp và sự tồn tại vĩnh cửu của nghệ thuật âm nhạc phức điệu. Và ông đã đúng, cho đến hôm nay, nghệ thuật âm nhạc phức điệu vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng có nhiều người yêu thích. Không chỉ tồn tại ở dạng một tác phẩm độc lập, phức điệu còn là thủ pháp sáng tạo nghệ thuật được hầu hết các nhạc sĩ của mọi thời đại sử dụng một cách có hiệu quả với nhiều tìm tòi trong việc tạo dựng phong cách sáng tạo nghệ thuật của riêng mình.

            Cũng trong chuyến đi vòng quanh nước Đức này, Bach đã khẳng định tài năng của mình và được giới âm nhạc công nhận là nghệ sĩ đàn organ số 1 thời bấy giờ. Nhưng tiếc rằng mọi người còn chưa hiểu một cách thấu đáo và vì vậy ít nói tới thiên tài sáng tạo nghệ thuật âm nhạc của ông với những tác phẩm vượt mọi thời gian, không gian. Song có lẽ chúng ta sẽ còn ngạc nhiên hơn khi ngay những bậc thầy của giới âm nhạc thời bấy giờ như Mateson Telleman cũng cho là như vậy. Các nhà xuất bản từ chối in tác phẩm của ông vì cho rằng tác phẩm âm nhạc phức điệu của Bach khó có “đất sống” ở thời đó.

            Vào tháng 11 năm 1717, Johann Sebastian Bach được cử làm nhạc trưởng dàn nhạc thính phòng trong cung của Hoàng tử Leopol xứ Anhalt-Kothen. Trong thời gian này ông bắt đầu viết những tác phẩm âm nhạc đầu tiên cho dàn nhạc và các nhạc cụ độc tấu (solo). Không chỉ tham gia hoạt động biểu diễn, ông còn dành thời gian biên soạn sách nhạc cho vợ và các con với mục đích dạy họ kỹ thuật cũng như nghệ thuật chơi đàn phím. Trong số sách này có tập “Cho đàn clavecin bình quân luật chơi vẫn tốt (Well-tempred Clavier), Inventions Little Organ Book. Cũng từ đây, tên tuổi của nhà soạn nhạc Bach ngày càng nổi tiếng. Năm 1716, cantata Người đi săn của ông đã được biểu diễn ở Veisenphens.

            Tháng 7 năm 1720, người vợ đầu của Bach qua đời khi ông đang đi biểu diễn ở xa. Tháng 12 năm sau (1721), ông cưới Anna Wilcken, một ca sĩ giỏi và là con gái của một nhạc sĩ cung đình. Trong khoảng thời gian từ 1723 đến 1742 bà sinh hạ cho ông 13 người con ngoài số 7 người con ông đã có với người vợ trước. Bà cũng là người giúp đỡ ông rất nhiều trong công việc bằng cách chép lại những bản tổng phổ của ông cho các nhạc công biểu diễn.

            Tháng 5 năm 1723, Johann Sebastian Bach chuyển tới Leipzig và ở lại đó cho đến cuối đời. Ông không hài lòng trên cương vị là nhạc trưởng, người chỉ huy dàn hợp xướng của nhà thờ Saint Thomas và trường dòng ở Leipzig do nhiều nguyên nhân. Để bảo vệ những giá trị đích thực của nghệ thuật âm nhạc, ông đã tranh cãi liên tục với Hội đồng thành phố. Nhưng cũng như trước đây, cả Hội đồng thành phố lẫn công chúng thời đó đều không hiểu và đánh giá được đúng thiên tài âm nhạc của ông. Họ thấy Bach không hơn một ông già thủ cựu, cứ khăng khăng bám lấy những hình thức âm nhạc mà họ cho rằng đã quá lỗi thời. Tuy nhiên, 202 bản cantata còn lại trong số 295 bản ông viết ở Leipzig cho đến nay vẫn còn được biểu diễn trong các chương trình hòa nhạc trên thế giới. Trong khi đó, nhiều bản nhạc mới và là mốt được công chúng vào thời kỳ đó yêu thích thì đã bị lãng quên từ lâu. Hầu hết các bản cantata của Bach đều được mở đầu bằng phần dành cho hợp xướng và dàn nhạc, sau đó tiếp nối bằng những đoạn hát nói và aria xen kẽ nhau cho giọng đơn ca và nhạc đệm, rồi kết thúc bằng bài lễ ca dựa theo bài thánh ca Lutheran đơn thuần. Âm nhạc luôn được kết hợp chặt chẽ với lời hát và làm cho lời hát trở nên vô cùng cao cả/thánh thiện với sự diễn cảm và xúc cảm mãnh liệt của tâm hồn. Trong số những tác phẩm này có Ascension Cantata (Cantata cho lễ Thăng thiên) và Christmas Oratorio (Oratorio cho lễ Giáng sinh), Christmas Oratorio bao gồm 6 Cantata. Passion of St. John (Sự khổ hình của Thánh John) và Passion of St. Matthew (Sự khổ hình của Thánh Matthew) cũng được viết ở Leipzig. Trong số những tác phẩm viết cho đàn phím thời kỳ này còn có Những khúc Biến tấu Goldberg; Phần II của tập “Cho đàn clavecin bình quân luật chơi vẫn tốt” (Well-Tempered Clavier); The Art of Fugue (Nghệ thuật Fugue), một cuộc trưng bày thực sự tráng lệ kỹ năng đối vị của ông dưới dạng 16 bài fugue và 4 bài canon, tất cả đều cùng một chủ đề. Thị lực của Bach bắt đầu suy giảm vào năm cuối cùng của đời ông do những năm tháng làm việc quá căng thẳng. Ông mất ngày 28 tháng 7 năm 1750 sau khi trải qua một cuộc phẫu thuật mắt không thành công.

            Ngay sau khi Johann Sebastian Bach qua đời, ông được người đương thời nhớ đến như một nghệ sĩ biểu diễn đàn organ và đàn clavecin hơn là một nhà soạn nhạc vĩ đại của mọi thời đại như lịch sử âm nhạc thế giới ghi nhận nhiều thế kỷ gần đây. Nếu như những chuyến lưu diễn thường xuyên của Bach đã khẳng định ông là một nhạc công đàn organ vĩ đại nhất của thời đó, thì phong cách viết đối vị của ông lại chưa được những người cùng thời hiểu và đánh giá đúng đắn hết giá trị đích thực của nó. Âm nhạc của ông đã bị phần đông công chúng và ngay cả phần đông giới những người làm công tác âm nhạc thời bấy giờ quên lãng trong suốt 80 năm sau đó. Dù vậy, vẫn có một số ít các nhạc sỹ ngưỡng mộ nghệ thuật âm nhạc của ông, trong số này có hai nhà soạn nhạc vĩ đại Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791) và Ludwig van Beethoven (1770-1827).

            Sự phục sinh niềm say mê những giá trị âm nhạc của Bach chỉ thực sự được xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX. Nhà soạn nhạc Đức Felix Mendelssohn (1809-1847) đã tổ chức biểu diễn bản Passion of St. Matthew vào năm 1829, điều đó đã có tác dụng rất lớn trong việc làm thức dậy niềm say mê âm nhạc Bach trong giới những người yêu âm nhạc. Ngoài ra, Tổ chức Bach Gessellschaft được thành lập năm 1850 cũng hết sức chuyên tâm vào việc tìm kiếm, biên tập và xuất bản các tác phẩm của Bach.

            Tuy nhiên, sự “phục hồi Bach” lại diễn ra trong thời điểm trùng hợp với sự nở rộ của phong trào lãng mạn trong âm nhạc, chính vì vậy trong nhiều trường hợp các phong cách biểu diễn đôi khi là những bóp méo thô bạo không đúng với tư duy sáng tạo nghệ thuật của Bach.

            Về phương diện tiếp cận kỹ thuật sáng tác âm nhạc, với Bach tự học là hình thức chủ yếu. Phương pháp chính của ông, như nhiều nhạc sĩ khác vào thời đó là tự mình chép lại vào vở nhạc tác phẩm của những nhà soạn nhạc Pháp, Đức, Ý nổi tiếng thế giới ở chính thời đại ông và trước đó. Từ đó tìm tòi và khám phá những đặc điểm sáng tạo, cái hay trong tác phẩm của họ mà học tập và làm kinh nghiệm cho sáng tạo của chính mình. Bach đã làm việc này trong suốt cả cuộc đời và ông cũng thường cải biên tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác.

            Tầm quan trọng trong âm nhạc của Bach phần lớn nhờ vào khả năng trí tuệ và lòng đam mê lao động nghệ thuật quên mình của ông. Người ta biết đến ông hơn cả là một nghệ sỹ bậc thầy về nghệ thuật đối vị. Ông có thể hiểu và sử dụng được mọi ngôn ngữ âm nhạc có trong thời baroque, ông có thể kết hợp những kiểu tiết nhịp đặc trưng của vũ điệu Pháp, sự uyển chuyển - duyên dáng của giai điệu Italia và sự rắc rối - khó hiểu của nghệ thuật đối vị Đức, tất cả vào trong cùng một tác phẩm. Đồng thời ông cũng có thể sáng tác cho giọng hát và những nhạc cụ khác nhau để khai thác những đặc tính cấu trúc riêng và tính chất giọng điệu trong từng loại. Thêm vào đó, khi lời được kết hợp với nhạc, Bach có thể sáng tác những phần nhạc giàu khả năng biểu đạt bằng những giai điệu tượng trưng cho biển cả, hoặc một bản canon để mô tả những tín đồ cơ đốc giáo làm theo lời răn của Chúa Jesu v.v…

            Khả năng của Bach tiếp cận và khai thác các phương tiện, phong cách, thể loại âm nhạc đương thời đã tạo điều kiện thuận lợi cho ông đạt được nhiều tác phẩm chuyển soạn độc đáo. Chẳng hạn, ông có thể lấy một nhạc phẩm hoà tấu như bản concerto cho violon chuyển sang một tác phẩm đầy thuyết phục cho duy nhất một nhạc cụ là đàn clavecin. Bằng cách sáng tạo giai điệu ông có thể chuyển kết cấu phức tạp của một bản fugue cho nhiều giọng sang một giai điệu duy nhất cho một nhạc cụ như violon hoặc cello diễn tấu. Những nhịp điệu đối thoại và cấu trúc thưa thớt của những đoạn hát nói opera được thấy trong một số tác phẩm dành cho độc tấu đàn phím. Tất nhiên, chỉ riêng thủ pháp kỹ thuật không phải là ngọn nguồn sự vĩ đại trong sáng tạo nghệ thuật âm nhạc của Bach. Chính khả năng biểu hiện của âm nhạc ông, đặc biệt được thể hiện trong những tác phẩm cho một giọng hát đã truyền đạt được lòng nhân ái và làm xúc động người nghe ở mọi chốn.

            Vị trí quan trọng trong số các tác phẩm viết cho đàn phím của ông là các preludefugue. Đó là nơi biểu hiện cao nhất của nghệ thuật phức điệu Bach trong âm nhạc dành cho cây đàn clavecin. Dưới góc nhìn cấu trúc âm nhạc, preludefugue là hai thể loại âm nhạc khác nhau. Nhưng ở Bach, ông đã liên kết/thống nhất hai thể loại âm nhạc này với nhau đến mức mỗi cặp preludefugue trong tập “Cho đàn clavecin bình quân luật chơi vẫn tốt” của ông như một “liên khúc nhỏ”.

            Trong cuộc đời mỗi con người thường đã nghe rất nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ thuộc trường phái âm nhạc khác nhau. Nhưng những ai đã nghe âm nhạc của Bach, tôi tin rằng ấn tượng được tạo bởi khi đó sẽ còn mãi trong tâm trí người nghe. Và đến một lúc nào đó, sẽ cồn cào trong ta nỗi nhớ mà chỉ khi âm nhạc của Bach vang lên, khi con người lạc vào thế giới của những âm thanh huyền diệu đó mới cảm thấy nguôi ngoai nỗi nhớ/mới cảm thấy bình yên nơi tâm hồn xao xuyến.

 

MỘT SỐ TÁC PHẨM NỔI TIẾNG CỦA J.S. BACH

I. Cho organ:

1.   Các (Prelude và fuga) Preludes và fugas: C-dur, D-dur, e-moll, f-moll, g-moll, A-dur.

2.   Các Fantasia và fuga (Fantasias và fugas): g-moll, c-moll, a-moll.

3.   Các Sonata (Sonatas):Es-dur, c-moll, d-moll, e-moll, C-dur, G-dur.

II. Cho clavecin:

1.   Cho đàn clavecin bình quân luật chơi vẫn tốt” (Well-Tempered Clavier). Tập 1. Gồm 24 prelude và fuga.

2.   Cho đàn clavecin bình quân luật chơi vẫn tốt” (Well-Tempered Clavier). Tập 2. Gồm 24 prelude và fuga.

3.   Các fantasia và fuga (fantasias and fugas): a-moll, d-moll, c-moll, D-dur, D-dur.

III. Cho dàn nhạc:

1.    Giao hưởng (symphony) F-dur.

2.    6 concerto Brandenburg: Số 1 giọng F-dur; Số 2 giọng F-dur; Số 3 giọng g-dur; Số 4 giọng G-dur; Số 5 giọng D-dur; Số 6 giọng B-dur.

3.    Các concerto cho clavecin cùng phần đệm của dàn nhạc: Số 1 giọng d-moll; Số 2 giọng E-dur; Số 3 giọng D-dur; Số 4 giọng A-dur; Số 5 giọng f-moll; Số 6 giọng F-dur; Số 7 giọng g-moll.

4.    Các concerto cho 2 clavecin cùng phần đệm của dàn nhạc: Số 1 giọng c-moll; Số 2 giọng C-dur; Số 3 giọng c-moll.

5.    Các concerto cho 3 clavecin cùng phần đệm của dàn nhạc: Số 1 giọng d-moll; Số 2 C-dur.

6.    Các concerto cho violon cùng phần đệm của dàn nhạc: Số 1 giọng a-moll; Số 2 giọng E-dur; Số 3 giọng d-moll.

IV. Các tác phẩm âm nhạc thính phòng cho dàn nhạc dây và hơi:

1.    Sonata và partita cho violon solo: g-moll, a-moll, d-moll, C-dur, E-dur.

2.    Sonata cho clavecin và flute: h-moll, Es-dur, A-dur.

 

 

 

 

Dự án Voyage Thư viện Tra cứu điểm